Sign up

Khoảng lặng giữa hai tiếng bom

Published on 10:34, 07/30,2011

 

TTCT - Năm bảy ngày một lần, nhóm trẻ bốn đứa cưỡi trên hai chiếc xe đạp chở những bao tải chứa đầy sắt xuống phố. Chúng bảo bán sắt ở thành phố tuy xa nhưng được giá hơn.

 

Những đứa trẻ đi rà phế liệu ở Quảng Trị - Ảnh: Y.M.S.

 

Dân ở đây chẳng lạ lùng gì với cái nghề mót phế liệu của lũ trẻ. Đó là cách mà chúng kiếm tiền trong những ngày nghỉ học để trang trải áo quần, sách vở và cả trăm thứ khác, khi ba mẹ chúng mệt nhoài bươn chải trên mảnh đất đầy cát kiếm chút thu nhập lo cho con cái.

Đất này người ta mỉa mai gọi là đất của những “mỏ sắt”, một loại mỏ mà chiến tranh để lại trong đất. Quảng Trị là đất bom. Và người dân vẫn cày sâu cuốc bẫm trên những thước đất chứa đầy vật nổ từ năm này qua năm nọ. Các cụ già tóc bạc phơ, răng cái còn cái mất thường nói trong giọng sếu sáo lạc thất khi nghe tiếng bom chát chúa từ nơi nào đó vang lên: “Bom lại nổ à cháu, có ai bị chi không?”.

Chẳng biết cái nghề mót phế liệu có từ thời nào. Người thì bảo sau chiến tranh, người thì bảo từ khi sắt vụn lên giá... Ở xứ này có nhiều ngôi làng xem đây là một nghề, họ gọi đùa với nhau là nghề đùa với thần chết. Chỉ cần một máy dò kim loại, một chiếc cuốc và một cái bao là có thể hành nghề này.

Ngay tại những ngôi làng như thế này luôn có những đại lý thu mua phế liệu. Và bom đạn, vật nổ trong lòng đất từ rừng về làng, về các đại lý rồi đi ra phố và đi xa hơn nữa. Còn nỗi đau bằng xương bằng thịt, bằng máu vẫn vương đâu đây sau những tiếng nổ kinh hoàng.

Cách đây một tháng tôi có dịp lên vùng cao Hướng Hóa, đồi núi trập trùng cà phê, hồ tiêu; hàng hóa giao thương với Lào nhộn nhịp qua đường 9. Một khung cảnh phố thị mang hơi thở của rừng núi phảng phất chút hiện đại, nhưng đi sâu vào các bản làng sau lưng núi vẫn còn nhiều gia đình lấy nghề mót phế liệu làm kế sinh nhai.

Vài hôm trước, ở đây đã xảy ra một vụ nổ bom bi. Nạn nhân là một đứa bé đang học cấp II. Một cán bộ Đoàn của thôn kể với giọng chưa vơi nỗi kinh hoàng, rằng đó là một đứa trẻ tội nghiệp, nhà cháu rất nghèo, tranh thủ những ngày nghỉ hè cùng nhóm bạn lên đồi mót sắt kiếm thu nhập giúp ba mẹ, mót từ đầu mùa hè đến giờ.

Bẵng đi một tuần ở nhà vì cơn sốt phát ban, nó gắng dậy và ăn vội trái bắp rồi theo nhóm bạn mang theo thiết bị lên đồi. Nó cuốc phải quả bom bi oan nghiệt sau nhát cuốc thứ ba, tiếng nổ vang trời. Cả làng khóc thương nó hiếu thảo và ngoan hiền.

Tiếng nổ của bom đạn thời bình thật kinh hoàng, sau tiếng nổ ấy người ta sợ hãi, tưởng chừng sẽ chừa không còn đem sinh mạng của mình đùa với tử thần nữa. Chỉ lặng đi một thời gian - bằng khoảng lặng giữa hai tiếng bom nổ, vì miếng cơm manh áo, những đứa trẻ làng này lại lên đường tìm sắt.

Thành phố Đông Hà có quán cà phê nằm ngay cạnh đường sắt, trước mặt là chiếc xe tăng của cuộc chiến ngày xưa giờ trưng bày giữa chốn đông người. Những lúc rảnh ngồi uống cà phê và nhìn chiếc xe tăng, thấy “cục sắt” này trông vô hại và hiền lành ít nhất trong khoảnh khắc hiện tại. Nhưng còn bao nhiêu “cục sắt” khác mang vật nổ đang nằm dưới lòng đất đợi chờ hóa kiếp?

Ai bảo lòng đất bao dung có thể cảm hóa những gì nội tại? Trong buổi chiều miền sơn cước, tôi thấy môi mình đắng chát khi nghĩ đến một ngày nào đó, trên ngọn đồi trọc một đám khói đen nghịt bốc lên sau tiếng nổ lớn. Niềm đau sẽ tràn về làng theo mùi thuốc súng khét lẹt. Và dường như đau thương của cuộc đời này chưa dừng lại ở đó...

YÊN MÃ SƠN

(Đăng báo TTCT ngày 26/7/2011)


Nơi tình yêu thắm lại

Published on 11:14, 07/24,2011

 

(Bài đăng ở báo SGGP năm 2010 với bút danh Yên Sơn)

Tôi về địa danh thành cổ Quảng Trị, nơi ba tôi ngã xuống cùng những người đồng đội không thể tìm thấy xác, dù là một mảnh áo nhỏ!

Cưới vợ xong, tuần trăng mật mà tôi chọn là một nơi được mệnh danh là đất chết. Nhiều người cho lời khuyên hãy đến những vùng có cảnh đẹp, các khu du lịch… nhưng tôi đã quyết tâm trở về mảnh đất ba tôi đã cầm súng và chiến đấu. Người vợ mới cưới của tôi ban đầu cũng ái ngại, rồi cuối cùng cũng đồng tình, tôi thật hạnh phúc khi nàng đồng ý.

Ba tôi tham gia chiến trường Quảng Trị một thời gian dài, nghe mẹ và bà kể lại. Lúc đóng quân tại một làng ven sông Thạch Hãn, ba thường viết thư về cho mẹ và bà, trong thư kể nhiều về con người và cảnh vật nơi này, kể về cái thị xã nhỏ bé nép mình bên con sông, những con đường bị bom cày xới, những người phụ nữ chân đất bế con chạy khỏi vùng lửa đạn…

alt

Minh họa: K.T

 

Ngày đó, ba đi theo tiếng gọi của miền Nam, như những trai tráng cùng làng, ba cưới mẹ vội vã, đơn sơ bằng một mâm cơm đạm bạc có mặt đôi bên gia đình. Chiến tranh không cho phép mỗi con người hưởng trọn cái hạnh phúc dạt dào của tuổi trẻ, vì hạnh phúc của họ nằm ngoài tiền tuyến, khi đối mặt với quân thù. Sau đêm tân hôn, ba lên đường cùng đồng đội, mẹ đưa tiễn người chồng mà hơi ấm dường như chưa quen. Suốt cuộc hành quân dài từ Bắc đến Trung, ba đều viết thư cho mẹ kể lại những nơi ba đi qua. Sau thời gian ba đi vào giới tuyến, mẹ bắt đầu nuôi trong mình một giọt máu của ba. Tôi sinh ra và lớn lên chưa kịp biết mặt ba, chỉ biết rất mơ hồ qua những ký ức của đồng đội, lời kể của bà và mẹ!...

Giờ đây, những hình ảnh mẹ nhắc lại trong thư của ba giờ đã hiện hình trước mặt. Xuống ga Quảng Trị, ngoắc chiếc ta xi của hãng Dòng Hiền, tôi cùng vợ làm một vòng quanh thị xã. Anh lái xe taxi cũng là một tay “hướng dẫn viên du lịch” nghiệp dư, biết tôi đi hưởng tuần trăng mật thì ngạc nhiên vì sao lại đến nơi này, anh nói ở đây chẳng có điểm du lịch nào phù hợp cho nghỉ tuần trăng mật, chủ yếu là du lịch tâm linh và hoài niệm chiến trường xưa thôi. Anh bảo thị xã này nhỏ bé lắm, nhưng nó chứa nhiều cái mà mỗi một con người cần nhiều thời gian để chiêm nghiệm. Anh bảo đây là đất của lịch sử và văn hóa, những gì còn lại của người Chăm ở vùng đất này cũng nhiều, với lại đây là “cố đô” của nhà Nguyễn, cái buổi sơ khai khi Chúa Nguyễn Hoàng vào đây khai hoang, đã chọn đây là Dinh để yên dân, trị quốc.

Tôi hỏi anh dấu vết của Nguyễn Hoàng còn lại gì trên vùng này, anh bảo giờ còn lại là hoài niệm cùng người dân và những tên làng, tên chợ thôi, còn vật chất cụ thể thì chỉ có những đền thờ, tượng ở làng Trà Liên cách đây không xa. Còn cái dấu vết đáng trân trọng nữa là thành cổ Quảng Trị, đó là dấu vết của thành quách mà thời Nguyễn bỏ lại trên đất Quảng. Đúng là người lái taxi am tường về lịch sử quê hương mình. Anh giới thiệu cho chúng tôi một khách sạn nằm cách thành cổ không xa, chào tạm biệt anh, tự hứa khi quay về sẽ gọi đúng chiếc taxi có anh lái để gặp lại lần nữa. Thị xã vào mùa đông cũng mưa bụi bay lất phất như ngoài Bắc, tôi đứng ở ban công khách sạn để hít một hơi thật sâu vì biết mình đã đặt chân đến mảnh đất thiêng, mảnh đất của sự hy sinh mất mát và oanh liệt!

Buổi sáng, khi cái rét cùng với những cơn mưa phùn bao phủ những con đường, tôi muốn đi bộ trên con đường trục chính của thị xã để thưởng thức cái sức sống từ miền đất thiêng. Bom đạn đã không còn nhưng dấu tích của nó đang hiện hữu trên những mảng tường của những ngôi nhà đổ nát mà nay nó trở thành di tích. Tôi đi ngang qua trường Bồ Đề, cái phế tích rêu phủ xanh nhưng nó làm minh chứng cho cái khắc nghiệt của chiến tranh. Bà cụ bán cháo ghé lại dưới gốc bàng trơ lá, bỏ quang gánh xuống để bày biện mọi thứ ra bán, chúng tôi ăn hai bát bánh canh cá lóc, mùi hành nén thơm ngon quyện trong cái lạnh tê người. Bà bảo bánh canh cá lóc là món đặc sản của người Quảng Trị, món này phải nói đến người Hải Lăng, họ làm thì hết chê.

Tôi hỏi ở cái thị xã hiu hắt này có món gì đặc sản? Bà im lặng một hồi rồi bảo: Bom! Tôi không muốn đi sâu vào cái “đặc sản” này, nhưng bà cụ sau khi biết tôi là người miền Bắc, vào thành cổ để thăm lại mảnh đất nơi ba mình ngã xuống nên cụ như tìm được một người đồng cảm để tâm sự. Cụ bảo đã mất đứa con trai chính trên mảnh đất quê hương mình, con trai cụ ngã xuống vào cái mùa hè đỏ lửa năm 1972. Lúc đó cụ đã ra Vĩnh Linh, cả làng chạy tan tác, chỉ kịp nhìn lại ngôi nhà rồi dìu dắt nhau đi. Những ngày khói lửa thật khủng khiếp, nỗi đau cứ dâng lên khi mỗi chiều ngóng về phía Nam sông Bến Hải, nơi từng những cột khói bốc lên, không biết đứa con trai mình ở lại cầm súng để bảo vệ thành cổ còn sống hay đã chết, nhưng cái không khí muốn diệt tan quân thù luôn sôi sục trong mỗi người dân ở đất thép Vĩnh Linh. Cuối cùng cái hung tin cũng đến trên đôi mắt thâm quầng của người mẹ, con trai bà hy sinh giữa những tấn bom đạn dội xuống. Bà bảo cái thời khắc ấy cỏ cây cũng không còn huống chi là người. Bà gọi đùa “đặc sản” ở xứ này là bom vì nó còn nằm chìm dưới đất, dường như nó không chịu tha cho những người dân nơi này, thỉnh thoảng tiếng nổ xé trời lại vang lên ở đâu đó sau lũy tre, trên đồi trọc và cả những kho phế liệu của người buôn. Tiếng nổ của hơn 30 năm trước và tiếng nổ bây giờ chẳng khác nhau là bao, nghe những tiếng nổ của những quả bom còn sót lại ở đâu đó, thấy nỗi đau mất mát lại thêm một lần bị chà xát như mới hôm qua.

Nhìn những bức tường rêu phong, mưa vỗ về tí tách, từng khóm hoa nở dưới những cành lá của người đàn ông bán cây cảnh trưng bày ở ngôi trường phế tích này, cụ bà rót cốc trà nóng cho tôi như trấn tĩnh lại trong những phút giây hồi tưởng quá khứ. Trong đôi mắt bà ánh lên một vẻ tự hào khi những màu xanh của cây lá, vẻ bình yên của cái thị xã nhỏ bé này có một phần xương thịt góp vào của con trai cụ. Tôi biết điều đó vì chính bà nội của tôi nhiều lần im lặng và hồi ức về đứa con trai của mình, mỗi người có một số phận khác nhau, nhưng riêng cái mất mát nào dường như cũng như nhau.

Tôi đi dưới cơn mưa theo con đường nhỏ để đến sông Thạch Hãn, vợ tôi đi bên cạnh nắm tay co mình vì lạnh, hai chúng tôi như người con lâu ngày trở về quê hương, luôn tìm thấy trong mỗi bước chân có dấu chân của ba đã đi qua. Dòng sông trong xanh, bình yên. Tháp chuông, lầu chuông vừa xây còn thơm mùi gạch mới. Cái hình ảnh bến thả hoa hiện hữu trước mắt, đã có lần tôi ước mơ kính cẩn trước dòng sông này khi xem lễ thả hoa chiếu trên ti vi hay đọc thơ của Lê Bá Dương. Vợ tôi đứng nghiêng mình và nắm tay tôi chặt hơn, tôi biết nàng xúc động khi đứng trước một nghĩa trang trên sông!

Tôi nhớ có lần nghe mẹ kể về ba vượt sông Thạch Hãn để tiếp cận thị xã. Mùa mưa nước to và chảy xiết, ba cùng hai đồng chí bí mật bơi qua sông, vốn là dân sông nước ở sông Hồng nên ba bơi qua được và tiếp cận bờ, một người đồng chí đã bị nước cuốn trôi trước sự bất lực của ba. Nhưng hàng đêm, trước những cấp thiết tiếp ứng quân lực, hàng chục chiến sĩ dũng cảm vượt sông để vào thành cổ.

Quảng Trị biết đến là tỉnh của những nghĩa trang, riêng ở cái thị xã nhỏ bé này có những nghĩa trang kỳ lạ: nghĩa trang trên sông Hãn, nghĩa trang trong thành cổ và xa hơn nữa cái Nghĩa Trũng được hình thành từ thuở Tây Sơn - Nguyễn Huệ. Dường như đâu đây trong mỗi tấc đất, ngọn cỏ đều có máu và từ đó cây đâm chồi, hoa nở dâng hương. Một màu xanh bao phủ thành cổ Quảng Trị, xanh cỏ cây, xanh nước hồ của những con kênh chạy quanh bờ thành, xanh áo, xanh mũ của các cựu chiến binh về đây dâng nén hương nồng mặc niệm đồng đội đã khuất.

Tôi cúi xuống đưa tay lướt nhẹ trên những cành cỏ lau, những giọt mưa đầu mùa đông tạo thành những giọt nước như những đôi mắt nhìn tôi, nhìn bầu trời hòa bình…

Dù không đi qua chiến tranh, nhưng những bức ảnh của Đoàn Công Tính ở bảo tàng đã cho tôi biết những người con ưu tú của mọi miền đất nước đã chiến đấu trên mảnh đất này thật anh dũng. Tôi cùng vợ dâng nén hương thơm thắp ở bia tưởng niệm, lòng run run nghẹn ngào vì đã về nơi mảnh đất mà ba mình ngã xuống: “ Ba ơi, con đã về đây thăm ba và các chú…”.

Tôi bóc một nắm đất ở trong cái “nghĩa trang” này đưa vào túi nylon, một nắm đất nhỏ để đưa về cho mẹ, cho bà, trong đó đã thấm máu thịt của ba hơn 30 năm trước. Tôi tin chắc là thế.

YÊN SƠN


Trên lưng

Published on 15:00, 12/18,2009


Ta cõng em rong chơi

Lên đồi cùng hái sim

Quả nào vừa chín bói

Mỏi mắt ta kiếm tìm (Xem tiếp)


Thung lũng mưa rơi

Published on 16:48, 11/20,2009

         
 
Cánh cữa khép rồi kinh thành em xa ngái 
Hỡi dòng sông quên ngủ bên đền đài 
Mùa thu khóc ở xứ này rất ngắn 
Mưa nguồn trắng xoá những ban mai... 
 
Xuôi phương nao trong màu huyết phai mờ 
Em tinh khôi đi về nơi núi bạc 
Sau chia ly tâm thần anh đã khác 
Thôi, chẳng còn buồn với ký ức xa xăm 
 
Kỷ niệm chẳng nhắm mắt khi ta ngủ 
Nên lúc say nổi nhớ lại vô cùng 
Em trắng xoá như mưa nguồn thung lũng 
Giấc chiêm bao đâu đâu cũng bóng tình 
 
Ta nhớ hoàng thành thuở yêu đương 
Em giam ta trong một đời sa mạc 
Mỗi giờ qua là một hạt cát 
Rơi vào hồn đầy kín những lối đau. 
 
 
(Lao bảo 25.7.2006) 


Chiều cố đô

Published on 16:12, 10/30,2009


Chiều kinh thành anh nắm tay em
Rải bước yêu đương dưới nắng mềm
Hoàng cung đó, em vẫn là công chúa
Hãy nhốt hình anh hởi dáng hiền   (Xem tiếp)


Những cơn mưa chiều

Published on 13:28, 10/21,2009




Những cơn mưa chiều cứ làm em xao xuyến
Em nghiêng mình để đổ những giấc mơ
Vuốt mái tóc rơi một màu kỷ niệm
Thành phố buồn, son phấn điểm hay chưa?  (Xem tiếp)


Đời buồn như hôm qua

Published on 09:51, 10/19,2009

 


 

   Đời buồn như hôm qua

    Buồn như đêm chia li về trên xóm vắng

    Một vì sao rụng khỏi cuống yêu thương... (Xem tiếp)


Con đường hoa

Published on 16:21, 10/15,2009

 

          

             Những bông hoa từ xứ lạ không tên

             Đem về đây để tối nay mơn man gió

             Lặng yên những vì sao và hoa cỏ

             Màn đêm đang thở men yêu thương....  (Xem tiếp)


Với sông Hương

Published on 16:30, 10/13,2009


          
 

Ngồi dưới cầu Tràng Tiền

Nghe sông Hương thì thầm về với biển

Đêm trung thu trăng đầy phúc hậu

Như người tình cũ tìm về đêm...  (Xem tiếp)


Thung lũng mưa rơi

Published on 09:07, 10/12,2009


             
     
    Cánh cữa khép rồi kinh thành em xa ngái 
    Hỡi dòng sông quên ngủ bên đền đài 
    Mùa thu khóc ở xứ này rất ngắn 
    Mưa nguồn trắng xoá những ban mai... 
      (Xem tiếp)


Ngàn xưa

Published on 11:02, 10/09,2009

Mới ngày nào thôi

Em đi về phía anh với nụ cười hai mươi tuổi

Tình yêu nhiều nông nổi

Hạnh phúc từ cay đắng của ngày xanh... (Xem tiếp)


Vô định

Published on 13:57, 10/06,2009

 

Chiều dài lắm và mây trời xa lắm

Cánh chim say bay mãi bỏ quên ngày

Đường phố chiều loài người muôn thế kỷ

Ôi dỗi hờn, ôi cơm áo qua tay...  (Xem tiếp)


Cõi em

Published on 14:23, 09/23,2009

Đêm sâu thăm thẳm
Em hiện hình
Tắm trong dòng hư ảo
Lung linh lung linh...
 (Xem tiếp)


Lao Bảo: từ rừng hoang đến phố núi

Published on 14:21, 09/23,2009

Theo con đường 9 từ thành phố Đông Hà đi lên phía Tây, vượt đèo Rào Quán, đỉnh Trường Sơn ở Khe Sanh là đến Lao Bảo. Nơi đây năm 1622 Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên lập Dinh trấn Ai Lao (sau này đổi thành Bảo Trấn Lao) để canh phòng cướp bóc nơi biên thuỳ. Thời điểm đó chỉ toàn là người thượng chiếm đa số, miền xuôi xem đây là một vùng thiêng nước độc, là vùng đất lam sơn chướng khí.

 (Xem tiếp)